Thích Học Toán

Archive for the ‘Độc thoại’ Category

Huyền không sơn thượng

79E5849C-D813-41BB-9139-84E782E7021C

Hè năm ngoái tôi có dịp nghỉ ngơi tĩnh dưỡng một tuần ở Huyền Không Sơn Thượng. Đây là ghi chép của tôi trong thời gian ở trong tu viện. Ghi chép lan man, không có nội dung gì đặc biệt, nhưng tôi muốn chia sẻ với nhiều người vì thời gian sống trong tu viện đã thay đổi tôi phần nào, có lẽ theo hướng tốt hơn.

Huyền Không Sơn Thượng là một thiền viện nằm trong địa bàn của huyện Hương Trà. Tu viện nằm sâu trong rừng, trên độ cao vừa phải. Tu viện lúc đầu là nơi Minh Đức Triều Tâm Ảnh chọn làm nơi lánh xa thế nhân, khi đó là đồi trọc hoang vu. Sau này, nhiều sư trẻ xin về theo, trong đó có sư Chơn Tín. Lúc đầu thầy Tâm Ảnh không nhận họ, nhưng họ quyết ở lại giúp thầy trồng cây, làm ruộng … Sau hai mươi mấy năm, xung quanh thiền viện đã hình thành một cánh rừng nguyên sinh. Ở trên cao là thông, phía dưới là keo, xung quang chùa và thiền viện có nhiều tre, trúc, bàng, lộc vừng và nhiều cây cảnh.

Anh Bi, anh Linh và anh Thuyết đưa tôi đến thiền viện chiều thứ hai 6/8/2018. Trên đường đi, anh Thuyết dừng xe ở phố buôn bán để anh Bi xuống mua cho tôi mấy gói mì đề phòng khi đói. Anh Bi chỉ kém anh Thuyết hai tuổi nhưng luôn gọi anh Thuyết là thầy. Anh Bi vốn là hiệu trưởng trường chuyên cấp hai Nguyễn Tri Phương là người có nhiều quan hệ và biết tổ chức sắp xếp công việc. Mọi việc lớn nhỏ của cộng đồng nhỏ các anh toán ở Huế đều do anh Bi sắp xếp. Anh Thuyết vì là thầy của anh Bi, và cũng là người có học vị cao nhất nên nghiễm nhiên là thủ lĩnh của nhóm. Lúc mới gặp, tôi không thích anh Thuyết lắm, có lẽ vì mái tóc nhuộm đen nháy của anh. Tôi có cảm tình với anh Hiếu ốm nhách hơn. Chơi với nhau lâu, tôi yêu quý tất cả các anh. Các anh luôn mong tôi vào Huế để các anh đưa đi chơi, đi ăn, uống ca phe nói chuyện toán. Dần dần tôi cũng thích chia sẻ thời gian của mình với các anh.

Trước khi đi, tôi có để số điện thoại của anh Thuyết cho mẹ tôi để mẹ liên lạc khi có việc gấp vì có thể mạng di động không phủ đến khu vực của thiền viện. Không bất ngờ lắm khi mẹ tôi gọi ngay cho anh Thuyết để dặn dò và nhờ anh mua cho tôi mấy thứ thuốc mà do vội tôi không mang đi. Mẹ tôi là như thế, một nỗi lo nho nhỏ trong đầu có thể làm bà bồn chồn, và phải giải quyết triệt để nó thì mới có thể nghĩ đến việc khác. Đặc biệt khi nỗi lo đó liên quan đến con trai của bà.

Thầy Chơn Tín đợi chúng tôi ở Am Mây Tía. Thầy Chơn Tín dáng vóc phương phi, ít cười, nhưng vẻ mặt toát ra sự khảng khái, chân thực. Thầy phổ biến cho tôi một số nội quy cho cuộc sống trong thiền viện. Ở đây, các sư tụng kinh hai lần mỗi ngày, một lần lúc 4:30 sáng khi vừa ngủ dạy, một lần lúc 6:00 chiều, xong rồi mọi người về am cốc của mình nghỉ ngơi. Chùa nấu cho ăn vào buổi sáng và buổi trưa. Ở đây các sư theo Phật giáo nam tông, có thủ tục đi xếp bát khất thực. Khi đi khất thực người ta cho ăn gì phải ăn nấy, cho nên các sư ăn mặn, không ăn chay. Thầy Chơn Tín đã để sẵn trong cốc nhiều mì gói, bánh quy, sữa đề phòng đói bụng vào buổi tối. Sau đó thầy phăng phăng xách cái va li nhỏ và đưa tôi về cốc.

Cốc là một ngôi nhà nhỏ, nằm trên vách núi. Các sư trẻ ở trong khu nhà chung. Các sư tu tập lâu ngày ở trong cốc như vậy. Cốc tôi ở gọi là Cốc Sư Thiện. Sư Chơn Hạnh, em trai của sư Chơn Tín nói với tôi rằng sư Thiện đã vào miền nam. Để đi lên Cốc Sư Thiện phải dò theo những bậc đá gập ghềnh mà các sư đẽo vào núi. Leo chừng ba mươi bước thì đến một tấm đá nhẵn thín, bắc ngang qua ao cá nhỏ uốn vòng quanh cốc. Ao nhỏ nhưng nước rất trong. Trong đó có ếch, nhái, rắn nước và những con cá nhỏ sống. Xung quanh ao, sư Thiện trồng nhiều cây dương xỉ, một loài cây tôi mà tôi ưa thích. Ở bên trái am còn có một bụi trúc vàng, thân trúc vàng óng, khoẻ mạnh. Chếch góc ao, có cả một cây chuối rất đẹp. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cả buồng chuối và hoa chuối. Thông thường ở các loài cây khác, hoa rụng thì mới kết quả. Cây chuối của sư Thiện mang một buồng chuối đã chín lắm, màu đã chuyển sang đen xì, vậy mà ở cuống của nó vẫn còn một bông hoa chuối rất tươi.

Cốc có hai phòng. Phòng trong là phòng ngủ, có cả điều hoà nhiệt độ. Phòng ngoài có một cái bàn đá màu trắng để thưởng trà và đọc sách. Ở góc phòng có một cái bàn nhỏ nơi thầy Chơn Tín đã xếp đủ sữa, nước, mì gói, bánh quy cho tôi đủ dùng cả tháng. Sau khi chia tay anh Bi, anh Linh và anh Thuyết, tôi đóng cửa và suy nghĩ mình sẽ làm gì với thời gian năm ngày ở trong thiền viện. Vào lúc đó, tôi để ý thấy ba quả thị mà thầy Chơn Tín để lại cho tôi ở trên cái bàn đá. Cầm một quả thị lên ngửi thấy hương thật thơm. Tâm trí tôi bỗng trở nên thanh thản lạ lùng. Tôi tự bảo mình thay vì việc đặt ra cho mình một thời gian biểu chặt chẽ, hay là tôi cứ ngồi đây ngắm ba quả thị, dõi theo quá trình biến đổi của nó. Bây giờ còn đang tươi tắn, thơm hương như thế, năm ngày nữa thì sẽ thế nào.

Chiều hôm đó, tôi đi bộ dọc theo con đường mòn vào sâu trong rừng trước giờ tụng kinh. Đi đường bị muỗi cắn khắp người mới sực nhớ ra rằng mình vào rừng ở mà quên không máng thuốc sức chỗng muỗi. Đường khó đi, thỉnh thoảng lại có cây đổ ngang đường. Ven đường có các cốc còn đang xây dở. Không quá lâu, con đường mòn đẫn đến một cái cốc khá khang trang, trồng nhiều hoa theo hàng lối. Ngại làm phiền, tôi không dám đi xuyên qua cái cốc đó để xem đường mòn còn tiếp tục hay không.

Trở lại sân chùa trước giờ rung chuông, tôi thấy một Tỳ kheo tươi tắn, đi cùng hai con chó đi đến chào. Sư tự giới thiệu mình là Chơn Hạnh, em trai của sư Chơn Tín. Chơn Hạnh hỏi tôi có thiếu gì trên cốc không. Tôi nói không hiểu sao trên đó không có màn, mà có nhiều muỗi quá. Chơn Hạnh nói muỗi rừng ra nhiều tầm 5-6 giờ, trước giờ tụng kinh. Sau giờ đó chúng về rừng, đêm không cắn người. Tôi nghe lạ quá vì muỗi ở Hà nội cắn người bất kể giờ giấc. Nhưng quả thật đêm đó tôi ngủ ngon, không bị muỗi cắn. Ngồi đọc sách ở trong cốc chỉ bị muỗi đến quấy vào đầu giờ sáng và cuối giờ chiều.

Chuông trên tháp gióng độ 10 phút thì một tỳ kheo bắt đầu thỉnh chuông trong chánh điện. Các tỳ kheo khác lục tục về chỗ mình ngồi. Tôi được xếp ngồi ở góc bên phải cùng các novice. Các sư đọc kinh pali chừng 15 phút rồi chuyển sang ngồi thiền. Tiếng tụng kinh pali của các tỳ kheo vảng vào đầu tôi như ngọn gió Tây nóng và khô thổi sạch đi những bụi bặm, ẩm ướt lưu cữu lâu ngày trên bề mặt của tâm hồn. Đèn phụt tắt khi các tỳ kheo đưng tụng kinh để thiền. Tôi cố bất động thân và tâm, tập trung theo dõi nhịp thở nhưng vì gối tê, lưng mỏi, tâm phiêu diêu, tôi cảm thấy mệt mỏi muốn đứng dạy chi sau 10 phút. Vì không muốn làm xáo trộn sự tập trung của các tỳ kheo, tôi cố chịu đau ngồi đến cùng. Tôi nhận ra rằng học thiền cơ bản là phải kiên nhẫn, chứ không cần nỗ lực gò ép mình quá đáng. Đến cuối tuần, tôi có thể ngồi được lâu hơn, không còn cảm giác đau mỏi như hôm đầu. Tâm vẫn khởi lên những suy nghĩ này nọ, nhưng nó cũng mau quay lại với nhịp thở hơn.

Buổi tụng kinh và thiền ở chánh thất kết thúc sau 7 giờ tối. Lúc đó ngoài trời đã tối đen. Lúc đấy tôi mới nhớ tới điều anh Bi nói lúc chia tay: đáng ra phải mang cho Châu cái đèn pin. Không đợt tôi hỏi, thầy Chơn Tín vào Am mây tía lấy cho tôi mượn một cái đèn pin. Nhờ vào nó tôi mới dò dẫm đi về cốc của mình.

Đêm ở trong rừng không hề yên tĩnh như ta nghĩ. Chỉ về đêm ta mới thấy rừng là nơi trú ngụ của trăm ngàn sinh linh. Ồn ào nhất là tiếng ễnh uông. Nó kêu như tiếng thanh tre gõ lên một dãy ống tre, từng đợt cách nhau chừng nửa phút. Bắt nhịp là một tiếng chim, hơi thảng thốt, nhưng vì rất đều đặn, nên không gây ra cảm giác bi ai. Con ễnh uông và con chim nhỏ hoà tấu với nhau như thế cho đến lúc toàn bộ dàn nhạc rừng oà lên cùng một lúc để rồi lại lặng đi ngay. Trong đêm rừng tối đen, ta chỉ còn thính giác để tiếp nhận các tín hiệu của rừng. Tâm hồn ta lắng xuống trong cảm giác dễ chịu đã được rừng tiếp nhận, dường như đã trở thành một phần hữu cơ của rừng.

Điện thoại reo báo thức lúc 4 giờ sáng để chuẩn bị đi tụng kinh lúc 4:30. Không đủ can đảm để chui ra khỏi giấc ngủ say để xuyên rừng đi lên chánh điện, tôi duỗi chân ngủ tiếp. Khi tỉnh dạy thì trời ở ngoài đã sáng. Tôi cố tìm ra con ếch đêm qua kêu to thế mà không tìm ra. Con ếch duy nhất mà tôi tìm thấy là con vật tý hon này. Vì một lý do riêng, tôi rất quan tâm đến loài ếch và rất mong muốn gặp một con ếch với kích thước đủ lớn. Mong muốn này sẽ được toại nguyện vào ngày cuối cùng tới hai lần.

Tuy không tìm thấy ếch, mục tiêu ban đầu, tôi tìm thấy một vài con vật rất đáng yêu luôn quanh quẩn cái ao nhỏ nằm trước mặt cốc. Đây là một con mèo hoang, rất dạn người, sẵn sàng lẻn vào cốc ăn vụng bánh quy của tu sĩ. Bên cạnh bánh quy, bọn mèo hoang tỏ ra quan tâm đến các con cá bé li ti bơi trong ao.

Một con vật khác, ít thù địch hơn với loài cá là con tắc kè. về hình tướng, tắc kè có lẽ là sinh linh khôi ngô nhất mà tôi gặp ở trong rừng. Nó có cái cổ màu xanh biếc và cái đuôi rất dài.

Điều lạ nhất xảy ra với tôi vào buổi sáng đầu tiên ở trong chùa là cảm giác trìu mến đặc biệt dành cho con tắc kè này bỗng dưng khởi lên trong tâm. Lòng trìu mến đó phát triển cả sang con kiến, con muỗi.

Một tâm trạng bình an dần dần định hình trong tôi. Cả ngày tôi không ra khỏi cốc trừ lúc các chú tiểu gõ kẻng gọi ăn trưa, và cuối giờ chiều khi chuông chùa gióng lên gọi các tỳ kheo lên chánh điện tụng kinh.

Đây là ngày đầu tiên ở chùa, tôi chủ định chỉ làm nhưng gì để tạo cho mình cảm giác bình yên, để dành nhưng vấn đề khó khăn phải suy nghĩ cho nhưng ngày sau. Tôi dành cho mình niềm vui đọc thật kỹ bài báo của Deligne về giả thuyết Weil, một viên ngọc của toán học hiện đại. Tôi thấy một cảm giác khoan khoái khi hiểu trọn vẹn lập luận cùa Deligne, khá ngắn gọn, nhưng thật tinh tế. Định đọc thêm toán nhưng đầu óc cảm thấy hơi mệt nên lại thôi. Thay vì việc bắt mình làm việc liên tục như thói quen, bây giờ mỗi lúc cảm thấy mệt mỏi, tôi cho phép mình ngừng lại, ngồi vào tư thế thiền và đếm hơi thở của mình.

Buổi tối sau giờ tụng kinh, sư Chơn Hạnh qua cốc thăm tôi. Sư mang cho tôi một đôi dép nhựa để đi trong phòng tăm cho khỏi ướt chân, một chai sữa đậu nành và một ít bánh quy. Sư kể chuyện cốc tôi ở trước là của sư Thiện, nay sư Thiện đã đi vào Nam. Trong cốc có một giá sách nhỏ, có lẽ do sư Thiện để lại. Nhìn nhưng quyển sách sư Thiện để lại có thể cảm thấy một tâm hồn hiền thiện, giản đơn: ngoài quyển sách Phật pháp căn bản mà sau đó tôi đọc hết trong thời gian ngồi một mình trong cốc, còn có sách tự học tiếng Trung, tự học đàn guitare, mấy tập thơ Huế … Hôm sau sư Chơn Hạnh mang cho tôi mượn thêm hai quyển sách của sư trụ trì Minh Đức. Hai quyển đó giảng pháp dưới hình thưc kể chuyện. Mặc dù không thích lắm thể loại hư cấu tôn giáo, khi rời tu viện tôi xin phép mang theo một trong hai quyển để đọc trên đường, như một cách nhớ lại những ngày ở trong tu viện.

Tôi dành ngày thứ ba ở tu viện để suy nghĩ về những vấn đề còn khó khăn, còn tạo ra những xung đột trong nội tâm. Sự kiện đáng lưu ý của ngày này là cuộc gặp gỡ với một con nhện gớm ghiếc bò cạnh nơi tôi ngủ. Mặc dù cảm giác trìu mến dành cho con tắc kè xinh đẹp phần nào lan sang con nhện, tôi băn khoăn không biết con vật này có nọc độc hay không. Trên đường xuống chùa, gặp thầy Chơn Phúc, anh trai của thầy Chơn Tín, người luôn niềm nở chào hỏi, tôi hỏi thầy Chơn Phúc xem nhện ở đây có độc, có căn người hay không. Thầy cười bảo nhện ở rừng này lành lắm, không độc, không cắn người. Vậy là tôi yên tâm tiếp tục sống chung với con nhện. Thực ra sau đó tôi không gặp lại nó nữa, trừ một lần khi đang đọc sách thì thấy buồn buồn ở gáy. Sờ tay thì hoá ra một con nhện khác đang khám phá khu vực lưng gáy của mình. Tôi búng nhẹ cho nó rơi xuống đất, không làm nó tổn thương.

Nhớ đến lời khuyên của Phan Việt, tôi lẩm nhẩm đọc đi đọc lại lời kinh thực hành Thiền tha thứ:

“Vì lâm lạc và không minh mẫn nên tôi đã có những hành động, lời nói, ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại, gây đau khổ cho những người khác, những chúng sinh khác. Xin tất cả mở lòng từ bi và trí tuệ để tha thứ cho tôi.

Tôi thành thật tha thứ cho những người đã có những hành động, lời nói ý nghĩ làm thiệt hại và gây đau khổ cho tôi.

Tôi thành thật tha thứ cho chính mình và nguyện từ nay làm lành, tránh dữ, giữ tâm trong sạch.”

Tuy chưa đi được tới tận cùng vấn đề muốn suy nghĩ tới, tôi cảm thấy một sự nhẹ nhõm thanh thản nào đó trong tâm hồn, trái với cảm giác nặng nề u uất thường có. Dường như việc để tâm vào quan sát chính mình một cách thiện chí, làm cho cái tâm được quan sát có được cảm giác bình an.

Ngày thứ tư ở thiền viện là ngày thứ năm của tuần. Trời mưa nặng hạt từ rạng sáng. Con đường lên xuống cốc trở nên trơn tuột. Xuống cốc khi chạng vạng vào giờ ăn sáng lúc trời mưa nặng hạt, tôi phải dò từng bước để khỏi ngã. Khi vừa vượt qua đoạn tưởng chừng nguy hiểm nhất, chỗ cầu thang làm bằng những phiến đá xếp nhấp nhô nghiêng ngả và dốc, khi đến đoạn cầu thang tưởng như bằng phẳng hơn, thì trượt chân. Mưa tiếp diễn cả buổi sáng. Chìm đắm trong suy nghĩ của mình nên quên giờ xuống chùa ăn trưa làm cho Chơn Hạnh phải mang một suất ăn lên cốc.

Trời ngớt mưa sau giờ trưa. Cảm thấy suy nghĩ của mình bắt đầu đi vòng quanh, tôi chợt nảy ra ý muốn đi bộ. Nhìn trên bản đồ google thi thấy gần thiền việc có một cái hồ, tôi đặt nó làm đích cho cuộc đi bộ. Ra khỏi cổng thiền viện chưa đến 1km tôi thấy một lối rẽ nhỏ đi về hướng hồ mà không có trên bản đồ. Đi theo lối đó dẫn tôi đến một khu vực khá tiêu điều, nơi có hai ngôi mộ cổ hình như bị bỏ hoang, gần một khu vực ô nhiễm hình như để chôn rác. Trên bản đồ khu vực này đáng ra là một phần của lòng hồ nhưng có lẽ phạm vi hồ nước đã bị thay đổi. Xa xa có một ngôi nhà dựng tạm bơ, một chiếc xe máy đặt giữa sân, và một đàn bò con đứng con ngồi dáng vẻ uể oải.

Bỏ lại đằng sau khung cảnh thê lương này, tôi đi theo một con đường mòn không có trên bản đồ. Dọc con đường mòn có hai, ba cái lán chỏng chơ. Gặp một người đàn ông chừng ba mươi tuổi, vẻ mặt u uất, làm vẻ không nhận thấy sự hiện diện của tôi, nhưng khi đi qua thì liếc theo tôi với ánh mắt dò xét, như có ý đồ. Xung quanh lán có nhiều thùng nuôi ong, và có lẽ đó là lý do để người đàn ông kia ở đây. Trong đầu tôi xuất hiện một sự lo ngại, người đàn ông này dường như chẳng có gì để mất trên cuộc đời này nữa. Hắn ta có thể giết tôi để cướp số tiền tôi đem theo trên người mà không ai biết. Tuy nhien, Ý nghĩ đấy biến mất khi tôi nhìn thấy lá cờ nhà Phật bay phấp phới bên những cái lán.

Đi khoảng cây số dọc theo bờ hồ mà không thấy hồ đâu. Liên tục là rừng keo độc chỉ một loài cây. Sau từng keo là ruộng lúa. Đi qua một xóm nghèo thì hiện ra một con đê. Con đê này là lý do tôi không nhìn thấy hồ, hồ nằm ở phía bên kia con đê. Con đê chì còn cách tầm 20 mét nhưng không thể tiếp cận được. Giữa con đường mòn tôi đi và con đê là một cái đầm nông có sú vẹt, nước sâm sấp lên đến đàu gối. Loáng thoáng nhìn thấy ở đầu kia con đê có mấy người đang chạy chơi. Tôi đi về hướng đó. Sự tĩnh lặng của trưa hè chợt bị phá vỡ bởi động cơ của một chiếc xe máy cũ. Trên xe có hai người, người ngồi trước tay cầm một cái vợt, người ngồi sau vai đeo một cái ba lô có gì nặng. Chiếc xe máy đưng phía sau lưng tôi tầm 10 mét. Hai người lội về phía đầm nước. Bây giờ tôi nhìn thấy cái người kia vác ở trên lưng là một cái ac-qui điện. Đây là hai kẻ đánh cá bằng điện. Đánh cá bằng điện là một trong những trò chơi ngu xuẩn và độc ác nhất mà con người tạo ra. Chỉ để bắt một con cá, họ sẽ giết chết hàng trăm con cá con.

Hết vùng sình lầy thì con đường mòn gặp bờ đê. Bờ đê xây kiên cố, cứ độ 20 mét lại có nhưngz bậc thang để đi lên trên đê. Từ trên đê nhìn xuống mặt nước thoáng đáng trải dài đến tận chân núi. Đây là công trình thuỷ lợi hồ chứa nước Khe ngang. Đang ngắm để thu cả cái không gian khoáng đạt trước mắt vào cái màn hình điện thoại, thì một người đàn ông trung niên đến gần nói với tôi: nhờ anh chụp ảnh hộ mấy cháu, điện thoại tối quá không chỉnh được cho rõ mặt. Phải định thần mấy phút tôi mới hiểu ra yêu cầu của ông ta. Ở phía dưới chân đê bên hồ một tốp phụ nữ nông thôn đang tạo dáng chụp ảnh kỷ niệm. Tôi vẫy tay gọi họ lên trên đê. Cái điện thoại rẻ tiền họ dùng để chụp ảnh bị ngợp bởi ánh sáng ngoài trời cho nên màn hình tối đen. Tôi gợi ý chụp họ bằng điện thoại của tôi rồi gửi ảnh qua nhắn tin. Lúc đầu các cô còn ngượng, mặt nghiêm trang như mấy anh lính canh lăng bác. Tôi nói các o nghêm trọng quá chụp không được. Vậy thôi là đủ để các nàng cười hết cơ số và tôi được một tấm hình thật ưng ý. Nụ cười ấm áp của những người phụ nữ nông thôn xua đi cái mùi tanh tanh còn đọng lại trong mũi tôi sau khi gặp hai gã đánh cá bằng điện.

Tôi hỏi làm sao các o có thời gian đi tham quan hồ? Họ nói hôm nay chúng tôi đi ăn giỗ, ăn giỗ xong phải ra đây chụp ảnh trước khi đi về nhà các đây vài chục cây số.

Đường về tu viện xa hơn tôi tưởng. Trời nóng hơn, tuy đâu đây bắt đầu thấy mấy con gió. Sau mấy cây số lên dốc, người tôi mồ hôi vã ra như tắm. Tuy vậy không cảm thấy mệt, đầu óc cảm thấy vui phơi phới, thảnh thơi kỳ lạ.

Tôi cảm thấy thấm mệt sau giờ tụng kinh và thiền. Món bánh quy trở nên khó nuốt nên đành đi ngủ với cái bụng đói.

Ngày thứ năm ở thiền viện và là ngày thứ sáu của tuần, tôi định dành để suy nghĩ tiếp về cái vấn đề làm mình phiền não, và bắt đầu ghi chép lại ký ức về những ngày ở đây. Kế hoạch của tôi bị thay đổi. vào giờ thư giãn sau giờ ăn sáng kho các tỳ kheo ngồi nói chuyện trong Am mây tía, sư Chơn Tín cho tôi biết buổi chiều mọi người cùng xuống Huyền Không 1 nghe Hoà thượng Viên Minh giảng pháp.

Hoà thượng Viên Minh là một trong bốn người tu hành cùng thầy Minh Đức thành lập Huyền Không. Chùa này lúc đầu đặt ở Lăng Cô. Sau 75, chính quyền không cho phép các thầy ở Lăng Cô nữa, vì lý do an ninh, nên họ phải quay lại Huế. Đó là điểm xuất phát của chùa Huyền Không ở Huế. Sau một thời gian ở Huế, thầy Minh Đức muốn lánh khỏi nhân tình thế thái nên lên rừng ở. Từ đó mới có Huyền Không Sơn Thượng.

Sau giờ ăn trưa, trong lúc chờ xe bus đi xuống Huyền Không 1, tôi ngồi nói chuyện với sư Chơn Phúc. Buổi nói chuyện đó để lại trong tôi nhiều cảm xúc. Sư Chơn Phúc thuật lại một phần cuộc đời của mình. Thầy vốn là một tay giang hồ có số má, đã từng đi tù bốn lần, lần cuối do vác dao đi chém phó công an Nha Trang. Chơn Phúc thuật lại những khoảnh khắc của cuộc đời mình khi mà cái sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tay. Thầy nói thầy đi tu để trả ơn sâu của thầy Minh Đức, người tu hành có khả năng hiểu được tâm can của cả những kẻ giang hồ. Sư Chơn Phúc không định đi nghe thầy Viên Minh giảng pháp vì những lời của thầy Viên Minh tuy cao siêu, nhưng “viễn ly mặt đất” và không “lọt lỗ tai” giang hồ.

Tôi theo xe của nhà chùa xuống Huyền Không 1 nghe giảng pháp trong tình trạng tâm lý mệt mỏ sau giờ nói chuyện với sư Chơn Phúc. Thời tiết nóng và ngột ngạt làm những chuyện khó chịu nhỏ trở thành rào cản để tâm trí thực sự lắng nghe. Sư MC mất gần nửa tiếng sắp xếp cử toạ theo thứ bậc tu hành, các tỳ kheo ngồi trước, tiếp theo là các sư sari, chỉ có hai hàng ghế phía sau là dành cho các phật tử. Sau đó một người của ban tổ chức bê cái lọng mầu vàng đặt bên phía phải khán đài đi, để rồi quay lại từ phía trái khán đài, che nắng cho Hoà thượng Viên Minh đi lên bục giảng pháp. Thầy Viên Minh giảng rằng bản chất của việc tu tập là làm thay đổi nhận thưc và hành vi, vàn bản chất của giác ngộ là đạt được nhận thức đúng và hành vi tốt. Khi đó là đến niết bàn, con người được giải phóng khỏi khổ đau và phiền não. Thầy nói đấy là lý do vì sao cuộc đời với nhưng khổ đau của nó chính là trường học để con người giác ngộ.

Trong phần Q&A, đợi đến cuối giờ khi không còn ai giơ tay đặt câu hỏi, tôi mạo muội hỏi thầy Viên Minh điều làm tôi bứt rứt trong giờ giảng pháp. Câu hỏi của tôi là lòng từ bi có đóng vai trò gì trong quá trình giác ngộ hay không. Câu trả lời của thầy rứt khoát đến mức làm cho tôi ngạc nhiên. Thầy nói rằng nếu hiểu từ bi như lòng yêu thương thì đó là một cản trở cho quá trình giác ngộ. Yêu thương hay căm ghét đều cản trở quá trình giác ngộ. Cũng như lý trí hay tình cảm cũng cản trở sự giác ngộ.

Phải chăng yêu thương, căm ghét đều là những ảo giác do tâm tạo ra?

Tôi cảm thấy khá suy sụp sau giờ giảng pháp, không đủ sức để đi tụng kinh nữa. Về đến cốc, tôi cố đi ngủ từ 6 giờ tối để thoát khỏi cảm giác buồn nôn và cơn nhức đầu.

Tôi tỉnh dạy lúc hai giờ sáng với cảm giác khoan khoái và minh mẫn lạ thường. Kịp tắm rửa để chuẩn bị tham gia buổi tụng kinh sớm lần đầu tiên.

Trên đường đi xuống chùa, tôi bất chợt cảm thấy ướt ở bên đùi trái. Cái ươn ướt bỗng chốc chuyển từ đằng trước đùi ra đằng sau. Đập đập vào chân thì một chú ếch rơi ra khỏi ống quần. Nhìn chú ếch chui từ chân mình ra tạo cho tôi một sự hứng khởi đặc biệt.

Đây là buổi sáng cuối cùng của khoá tu này. Sau khi ăn sáng, tôi ngồi lại Am mây tía ăn nhãn và trò chuyện với các tỳ kheo. Tôi cảm ơn họ đã tiếp nhận tôi trong những ngày qua ở thiền viện.

Sau đó tôi quay lại cốc, dọn dẹp đồ đạc và lau chùi nhà cửa sạch sẽ. Khác với mong đợi, tôi không cảm thấy vui hay buồn khi nhìn ba trái thị đã khô héo. Biểu hiện của sự vô thường không còn tạo cho tôi cảm xúc gì đặc biệt.

Lúc xỏ chân vào giầy chuẩn bị xuống cốc, toi thấy có cái gì như một cục đất rất to rơi vào giầy. Té ra là một con cóc cụ. Tôi tạm biệt cốc và con cóc với một niềm vui phơi phới trong lòng.

Khi đi xuống núi, tôi lẩm nhẩm lời dạy của Phật:

“Con hãy là hải đảo của chính mình, là nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác”.

“Con hãy là hải đảo của chính mình, là nơi nương tựa của chính mình, không có nơi nương tựa nào khác”.

Written by Ngo Bao Chau

10/07/2019 at 08:58

Posted in Độc thoại

Muốn gì

Định rủ bạn An viết blog. Mình bảo viết blog hay lắm. Đây này, bố cũng có blog đây này. Bạn An đọc tiếng Việt khó khăn. Tuy vậy chỉ mấy phút bạn ấy đã phát hiện ra nỗi khổ tâm của bố. An bảo cái trang thichhoctoan của bố trung bình mỗi năm lên có một bài mà cũng dám tự nhận là blog.

Nhân tiện chào mừng cơn mất ngủ triền miên quay về, chịu khó biên mấy thứ lăng nhăng để tăng “tần suất” bài cho blog. Tuần trước nhờ việc sửa bài cho bạn X.L., chuyên gia học máy số một Việt nam quê ở Hải Phòng, gửi đăng trên báo PI, mà kho từng vựng của mình nhập thêm một từ mới. Đó là từ “tần suất”: phải nói đây là một từ nghe rất khó chịu. Nghe như tiếng gọi thôi thúc mình tăng năng suất về một cái gì đó, không rõ cái gì. Nó không tạo ra cảm giác thanh thản cho người nghe.

Nhân nói về chuyện thanh thản, tuần trước có một cuộc tranh luận khá căng với bạn N.A. Bạn N.A. mê thiền, thích nói chuyện về phật giáo. Mình nói với N.A. là luận về khổ và cách diệt khổ của nhà Phật rất hay. Tuy nhiên, mình không đồng ý với sự cần thiết phải thủ tiêu nỗi khổ.

Không phải chờ lâu đâu, đến lúc đó thì ai cũng sẽ nằm đờ đẫn ở đâu đó. Lúc đó bạn sẽ không thấy khổ nữa đâu, mà ngược lại sẽ tha hồ thanh thản với vĩnh hằng. Không việc gì phải đốt cháy giai đoạn như thế.

Nếu còn lo lắng, còn khắc khoải với bao dự định chưa thực hiện được thì bạn nên mừng. Đấy là bằng chứng bạn vẫn còn đang sống. Cũng vì thế mà mình cũng không đồng ý với N.A. về sự cần thiết phải thủ tiêu sự ham muốn. Không có ham muốn thì làm gì có lo lắng, khắc khoải. Làm sao biết được bạn còn đang sống.

Tuy vậy muốn cho đúng cách, muốn một cách có ý thức, đòi hỏi cả một quá trình rèn luyện. Biết mình không muốn cái gì thì rất dễ. Tôi không thích thế này, tôi không thích thế nọ. Tôi thích muốn làm gì thì làm, nhưng người khác làm gì động đến tôi thì tôi không thích.

Biết mình không muốn cái gì rất dễ. Muốn lung tung, muốn những thứ mâu thuẫn nhau cũng rất dễ. Biết mình chính xác muốn gì, muốn một cách không tự mâu thuẫn, biết sẵn sàng trả giá cho điều mình muốn mới là khó. Biết đón nhận khổ đau như một yếu tố tất yếu của một cuốc sống thực sự, cuộc sống mà mình muốn, theo ý tôi, đó chính là cái làm cho người ta có thể hiên ngang với thân phận của mình.

Ai rồi cũng thành ra đất cả. Cái quan trọng không phải là tìm cảm giác thanh thản, cũng không phải là mưu cầu hạnh phúc, mà là giữ gìn phẩm giá của con người, khi đang còn sống.

Written by Ngo Bao Chau

12/01/2017 at 04:00

Posted in Độc thoại

Bát chiết yêu

chietyeu 

Tôi sinh ra ở thành thị, không biết nhiều về nông thôn. Hồi bé thỉnh thoảng tôi được bố cho về quê, quê tôi là một cái làng nhỏ nằm ven sông Đáy. Vì không lần nào được ở quê quá một đêm, nên không cảm thấy gắn bó lắm. Cánh cò chấp chới ở cuối cánh đồng cũng gây cho tôi một chút bâng khuâng, nhưng không làm cho tâm hồn xao động như những ngọn gió đông thổi dọc phố Lý Thường Kiệt.

Tự dưng dạo này lại sinh ra cái ước ao được tận mắt nhìn thấy căn nhà ba gian mái tranh của người đồng bằng bắc bộ. Bạn bè dẫn tôi đến nhiều căn nhà ba gian dựng lại theo kiểu xưa, rông rãi thoáng mát và tiện nghi lắm, nhưng cái mà tôi tìm là cái hồn người xưa thì không ở đó. Tôi cũng không rõ cái hồn xưa đó có thật hay nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tưởng của những người hoài cổ. Vậy mà tôi vẫn muốn đi tìm nó vì mặc dù chưa được nhìn thấy, tôn tin rằng nó tồn tại, có khi chỉ vì câu thơ của Quang Dũng

“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng”.

Tôi muốn tin rằng làng quê dưới hàng cau hiền lành là cái cốt của văn minh người Việt, chứ không phải mấy thứ u mê úm ba la mà bây giờ có thể nhìn thấy khắp nơi. Tin vậy thôi nhưng mà không chắc.

Hoạ sĩ Bùi Hoài Mai dựng lại một ngôi nhà ở Tiên Du, Bắc ninh. Tôi không rõ nó có giống với cái hình dáng lý tưởng của ngôi nhà Việt mà tôi đi tìm hay không, nhưng nó rất đáng yêu, phòng nào cũng nhỏ, chỗ nào cũng có chút gió mát, có chút hồn người.

Bùi Hoài Mai vốn sinh ra ở Hà nội, bây giờ có thể tự hào vì đã thành một lão nhà quê thực thụ. Bao nhọc nhằn của người nhà quê đã in cả lên cái điệu cười nhăn nhở của lão. Cần bao nhiêu nhọc nhằn để thổi lại chút hồn thơm thảo của người nhà quê vào từng nếp nhà, vào từng mái chùa của cái làng nhỏ ở Tiên Du. Lão thổi nó cả vào mấy cái bát đĩa ấm chén này nữa.

Tôi viết mấy dòng này vì tôi yêu lão Mai lắm, chứ không phải vì lão ấy tặng tôi ba cái bát chiết yêu. Đó là một ngày không thể quên, không phải vì lão Mai nấu ăn ngon, mà vì mải nghe lão Mai ba hoa về quy trình làm đồ gốm mà tôi về Hà nội muộn, không kịp đưa mẹ đi bệnh viện. May mà không làm sao. Phúc tổ bảy mốt đời.

Written by Ngo Bao Chau

03/02/2016 at 16:34

Posted in Độc thoại

Yêu nước

K là giáo sư toán ở đại học Yale, có quốc tich Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào. Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga. Trường hợp của K không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn quốc hoặc Nhật bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ túm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình. Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong sô họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp.

Tại sao lại đồng cảm với họ? Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ. Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.

*****

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại tây dương. Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai hoạ cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở  tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm hoạ đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa của văn minh nhân loại. Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt nam, văn minh Trung hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

*****

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt nam. Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến Đại hội lần này hơn hẳn so với những Đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến Đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ an quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong kong đang dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền. Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

*****

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.

Written by Ngo Bao Chau

26/01/2016 at 19:05

Posted in Độc thoại

Faithfully flat

 

faithfully-flat

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vào dịp này năm ngoái, Ly nói với tôi về một tác phẩm nghệ thuật với nền là các khái niệm toán học. Lúc bấy giờ, tôi không thể hình dung được nghệ thuật tạo hình sẽ phản ánh những khái niệm trừu tượng của toán học như thế nào. Dần dần tôi hiểu ra rằng, ý tưởng của Ly dường như còn táo bạo hơn thế.

Thế giới in vào tư duy ta hình ảnh của nó. Thế giới không thuộc về ta, ta chỉ sở hữu hình ảnh của nó. Hình ảnh đó là khái niệm, ý tưởng và lời. Khái niệm và ý tưởng là những gì quý nhất mà nhà toán học có thể đem đến cho người khác. Thế thưng giải thích một khái niệm, một ý tưởng sao khó thế. Cứ nhìn học sinh của tôi trong lớp thì rõ. Lời nói, nếu là lời chân thành, là món quà quý nhất mà người ta có thể đem tặng nhau. Thế nhưng cho hay nhận một lời chân thành cũng thật khó.

Ly muốn dùng những đường chỉ mỏng manh thêu trên lụa trắng để thể hiện cái còn cái mất của những lời mà chúng ta nói với nhau.

Đó là cách mà tôi hiểu về tác phầm của Ly, nhưng không biết có đúng không.

Written by Ngo Bao Chau

17/05/2014 at 01:54

Posted in Nhân vật, Độc thoại

Tagged with

Ôn bài

Nhớ lại năm 1979, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố dạy cho Việt Nam một bài học. Trong bối cảnh hiện tại, chúng ta phải cố mà nhớ ra bài học của họ Đặng. 

Bài học ấy diễn đạt bình dân thì đơn giản thế này: Chúng tao đánh mày đấy, xem thằng đồng minh Liên xô có nhúc nhích một ngón tay để ứng cứu mày hay không? Chính vì vậy mà Đặng chỉ tấn công Việt Nam sau khi có thông tin tình báo của Mỹ khẳng định Liên Xô mệt lắm rồi, Liên Xô sẽ không động đậy dù chỉ là một ngón tay út.

Lần này, xem xét qua vụ Syria, vụ Crimea thì thấy nước Mỹ của Obama cũng mệt rồi. Cái ông Obama ấy sẽ chẳng làm gì hơn là thực hiện phép biện chứng về xoay trục, xoay đi xoay lại vẫn thế. Rõ ràng đây là thời điểm lý tưởng để Trung Quốc nhắc lại cho Việt Nam bài học của Đặng. Sẽ chẳng có ai nhúc nhích một ngón tay út để bảo vệ nước Việt đâu.

Nỗi ám ảnh thường trực của Trung Quốc không phải là thiếu dầu. Nỗi ám ảnh của Trung Quốc là bị Mỹ và đồng minh của Mỹ bủa vây đường ra biển.

Cái mà Trung Quốc muốn ở Việt Nam chưa chắc đã là dầu hoả, mà là sự thần phục vô điều kiện, là Việt Nam quay lưng hoàn toàn với Mỹ để Trung Quốc có thể tự tung tự tác trên Biển Đông.

Chúng ta đinh thần lại một chút và cần nhắc nhở ông bạn vàng rằng ông ấy cần sự hợp tác của chúng ta để đảm bảo sự lưu thông hàng hải bình thường ở biển Đông. Dù cho hải quân Trung quốc có trang bị tối tân hơn Hải quân Việt nam, nếu xảy ra xung đột, lưu thông hàng hải sẽ bị ảnh hưởng. Trong trường hợp đó, kinh tế Trung quốc có thể sẽ phải trả giá.

Written by Ngo Bao Chau

10/05/2014 at 16:02

Posted in Độc thoại

Sách

Vì lý do công việc, tôi hay phải dọn nhà. Cứ mỗi lần lại phải mất một vài tháng thì ngôi nhà mới xa lạ mới trở nên thân thuộc. Tôi để ý thấy thời điểm mà sự thân thuộc tăng đột biến là thời điểm khi tôi lấy sách từ trong thùng mang xếp lên kệ. Lúc xếp sách lên kệ là lúc quá khứ của ta ùa vào không gian của hiện tại.

Tôi có rất nhiều sách. Có sách đã đọc, có sách đã đọc vài lần, có sách đọc một nửa, còn có quyển mới chỉ đọc vài trang. Nhưng mất quyển sách nào là tôi biết ngay. Và tôi rất ghét các bạn mược sách mà quên trả, trong khi bản thân tôi thì cũng đôi khi giả quên.

Những quyển sách cũ hình thù xộc xệch vì thời gian là những quyển mà tôi cảm thấy gắn bó nhất. Quyển này từng vác sang Ấn độ vào mùa mưa, trang giấy hút ẩm đến quăn queo, không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu. Quyển này vì để cả tháng trên bàn làm việc ở trên tầng bốn tràn đầy ánh nắng trong ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Hà Nội, nên bìa đã phai màu. Nhìn những quyển sách úa đi với thời gian cũng thân thương như xem cha mẹ, người thân, bạn bè mỗi ngày một già.

Cuộc sống của mỗi người bị hạn chế trong không gian và trong thời gian. Mỗi người chỉ có thể sống một cuộc sống, tại mỗi thời điểm chỉ có thể có một vị trí. Trang sách chính là cửa sổ mở sang những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ánh sáng mặt trời dọi vào cuộc đời mình.

Đọc sách không chỉ để thỏa mãn cái ham muốn hiểu biết về vũ trụ và về cuộc sống, mà còn là cách để nuôi dưỡng sự ham muốn đó. Một câu hỏi được giải đáp sẽ mở ra hai câu hỏi mới cần được giải đáp và dắt tay ta đến những trang sách mới.

Không phải cái gì mình cũng tìm được trong sách, vì cuộc sống luôn rộng lớn hơn sách vở. Có thứ sách không dạy được ta, vì nếu chưa được cuộc đời cho ăn đòn thì ta chưa hiểu. Cũng có những chuyện nói ra thành lời thì dễ hơn viết.

Nhưng ngược lại ta có thể học bằng đọc sách nhiều hơn người ta tưởng. Nhiều chuyện khó nói ra bằng lời lắm. Quan hệ xã giao giữa con người với con người phải tuân theo mọt số quy định : cuộc sống hàng ngày của mỗi người đã đủ mêt mỏi, không nên hành hạ người khác về sự ray rứt của bản thân mình. Khi nói, mình muốn người khác phải nghe ngay. Khi viết, mình có thể để người ta đọc lúc nào cũng được. Chọn không đúng thời điểm, những thông điệp thiết tha nhất cũng trở nên lạc lõng. Lợi thế lớn nhất của sách là tính ổn định trong thời gian.

Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách.

(Bài đã đăng trên blog Thích Học Toán cũ vào khoảng tháng 9, 2010)

P.S. So với bản đầu tiên có lược đi một câu.

Written by Ngo Bao Chau

03/02/2014 at 14:02

Posted in Sách, Độc thoại

Những tiệm sách ấy, bây giờ ở đâu

Cuối tháng mười, tôi quay lại Paris mấy hôm vì chút công việc. Để tiết kiệm thời gian, ngay hôm đầu tiên tôi đã hẹn mấy người đồng nghiệp đến viện IHES cùng làm việc. Tám năm trước, tôi đã từng làm việc ở đây trong một thời gian dài. Dạo ấy, hàng sáng tôi lấy tàu B đi xuống bến Bures cách viện IHES khoảng mười phút đi bộ. Lần này, tôi quyết định đi sớm hơn thường lệ để có thời gian qua tiệm sách gần nhà ga Bures mua quyển Ký sự Algerie của Camus mới xuất bản. Tiệm sách nằm ngay trên đường đi từ nhà ga đến viện, đúng ở chỗ góc phố nơi phải rẽ trái. Tôi còn nhớ bà chủ tiệm luôn nhìn bạn qua cặp kính để trễ xuống mũi, luôn ở trong tư thế sẵn sàng tư vấn sách vở cho bạn với thái độ nghiêm túc và đầy tự hào nghề nghiệp. Không biết làm sao mà lần này tôi tìm mãi không thấy tiệm sách đâu và có lẽ vì thế mà cảm thấy thực sự hoang mang như một người đi lạc đường. Mất tới gần mười phút tôi mới hiểu ra rằng tiệm sách Bures đã đóng cửa. Nơi xưa là một tiệm sách sáng sủa, ngăn nắp và sạch sẽ, nay là một gian nhà tối om, trên cửa kính dán xô lệch những tờ quảng cáo loè loẹt.

Dịp hè vừa rồi, Trương Quý có cho tôi một quyển tản văn của Nguyễn Việt Hà. Văn anh Hà hóm hỉnh, đọc thỉnh thoảng muốn tủm tỉm cười, nhưng cười xong thì thấy buồn nhiều hơn là vui. Có một đoạn về những tiệm sách cũ của Hà Nội hơi thê lương, nhưng đọc đoạn này tôi lại cảm thấy vui. Anh Hà nhắc đến một tiệm sách cũ ở phố Hàng Bài, ngay phía bên trái rạp Tháng Tám.  Vào cuối những năm bảy mươi, chiều nào tôi cũng đi qua, rồi đứng tần ngần nhìn qua cửa kính, dù biết mình không có tiền để mua sách và dù có mua thì đọc cũng không hiểu vì ở đấy không bán sách cho trẻ con. Nhưng đây là nơi ông ngoại mua cho tôi quyển sách đầu tiên, một quyển sách về ngành khoa học chăn nuôi. Tôi mê mẩn quyển sách ấy chỉ vì ngoài bìa có vẽ mấy con lợn rất đẹp. Tiệm sách này đã đóng cửa từ rất lâu. Ông ngoại tôi cũng đã mất. Những người thân và háng xóm của tôi không hiểu tại sao không hề nhớ về sự tồn tại của nó. Đọc sách Trương Quý cho, tôi phát hiện ra rằng có một người nữa là Nguyễn Việt Hà vẫn còn nhớ về nó. Không quen, chưa gặp bao giờ, vậy mà tự nhiên tôi cảm thấy quý anh ấy. Nhưng có một chi tiết mà có lẽ anh Hà chưa biết. Ở phía trong tiệm sách phố Hàng bài là nhà của ông bà Dực. Ông Dực là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi ngờ rằng tiệm sách có một mối liên hệ nào đó với học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Một số người hỏi tôi tại sao trong nhiều lựa chọn tôi lại chọn về dạy học ở Chicago, một trong những nơi lạnh nhất nước Mỹ. (Khi tôi viết mấy dòng này, nhiệt độ ngoài trời đã xuống dưới -10 độ C.) Tôi có sẵn một số lý do để tuỳ hoàn cảnh mà trả lời câu hỏi này. Một trong những câu trả lời rất thật mà không mấy người tin là xung quanh đại học Chicago có nhiều tiệm sách. Lớn nhất là tiệm sách Seminary Coop. Tiệm này có hai chi nhánh. Chi nhánh lớn có thể nói là thiên đường của sách hàn lâm. Mỗi khi có ít phút sau giờ ăn trưa, tôi lại rẽ qua đó để đắm đuối. Có rất nhiều đầu sách nhân văn có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết nếu không nhìn thấy ở Seminary Coop. Chi nhánh nhỏ chủ yếu bán sách hư cấu và sách cho trẻ con. Đây là địa điểm vui chơi ưa thích của bé Nguyên và bé An và cũng là nơi tôi đưa các bé đến mỗi khi có việc gì cần phải lấy lòng hai bé. Đối với tôi, địa điểm vui chơi ưa thích lại là hiệu sách cũ Powell. Không lần nào qua Powell mà tôi không hoan hỉ ra về với vài ba quyển sách cũ, dĩ nhiên theo tôi là quý hiếm, và dĩ nhiên giá cả lại rất phải chăng. Trước đây, trong khu vực xung quanh đại học còn một tiệm nữa là Borders nhưng đã đóng cửa từ hai năm nay. Đây là một trong hai chuỗi tiệm sách lớn nhất ở Mỹ, với cửa hàng với diện tích kinh doanh rộng, vừa bán sách vừa bán bánh ngọt và cà phê, một mô hình kinh doanh một thời đã rất thịnh hành. Buổi chiều sau giờ đi học, trẻ con ngồi đọc sách lốc nhốc khắp cửa hàng. Tiếc là mô hình kinh doanh của Borders không sống sót được trong kỷ nguyên kinh doanh qua mạng và nó đã là một trong những nạn nhân đầu tiên của đế chế Amazon. Ngay sát nách trường vẫn còn một tiệm Barnes and Nobles hoạt động theo mô hình tương tự, hiện tại vẫn thoi thóp sống.

Tôi thành thật tin rằng cuộc sống ở một nơi nào đó sẽ dễ chịu hơn, nhân văn hơn nếu nơi đó có nhiều tiệm sách. Hà Nội bây giờ còn ít tiệm sách quá. Mật độ tiệm sách đạt cực điểm ở phố Đinh lễ, nơi sách mới được bán với chiết khấu cao nhất có thể. Nếu bạn phải tìm một quyển sách xuất bản chỉ một năm trước đây thôi, có đi dọc cả phố Đinh Lễ bạn cũng không tìm thấy. Đinh Lễ giống cái chợ hơn là một tiệm sách. Bạn đến đó để mua sách giá rẻ chứ không phải để nhẩn nha tìm một đầu sách mà bạn chưa biết. Tuy thế, ra Đinh Lễ vẫn thích, bạn bất chợt nhận ra rằng xung quanh bạn vẫn còn khá nhiều người thích đọc sách.

Trên phố Tràng Tiền còn sống sót hai tiệm sách mậu dịch. Gần kem bô đê ga là tiệm sách ngày xưa vẫn gọi là ngoại văn vì ngay ngoài cửa có cột chữ tiếng nga kniga. Ở trong đó lúc nào cũng tối om như tiền đồ chị Dậu. Bên đường bên kia, gần nhà in báo nhân dân cũ, bây giờ là trung tâm văn hoá Pháp, là toà nhà sáu tầng của tổng công ty sách. Ở đây sáng sủa hơn, nhưng phong cách kinh doanh thì vẫn kiên định với lý tưởng quốc doanh. Tuy diện tích kinh doanh lớn nhưng số đầu sách không hơn mấy sạp sách ngoài phố Đinh Lễ và vì dĩ nhiên là không có chiết khấu nên tôi ngờ rằng doanh thu của cửa hàng không hơn mấy doanh thu của sạp chị Hoa. Chục năm trước, khi xin nhà nước kinh phí để xây toà nhà này, tôi tin rằng mong muốn sâu thẳm của lãnh đạo tổng công ty sách vẫn là đem ánh sáng văn hoá đến cho nhân dân. Tuy nhiên môi trường kinh doanh khắc nghiệt đã không cho phép giấc mơ của họ trở thành hiện thực. Sắp tới, tổng công ty sách sẽ chuyển đổi một phần mục đich sử dụng của toà sang thành trung tâm thể hình thẩm mỹ. Tuy khác với mục tiêu đặt ra ban đầu, nhưng vẫn là một cách phục vụ nhân dân, tất nhiên chủ yếu là nhân dân có tiền.

Hoàng tử bé của Saint-Exupéry rất ít tin tưởng vào khả năng tư duy của người lớn. Người lớn thích làm ra kế hoạch kinh doanh, rồi phấn đầu bền bỉ để đảm bảo tiến độ của kế hoạch mà mình đặt ra, rồi thường xuyên cập nhật bảng cân đối thu chi để có thể theo dõi lợi nhuận. Phần lớn thời gian chúng ta cũng làm thế trong công việc hàng ngày của mình, và vì thế chúng ta dễ thông cảm với những người lớn hơn. Nhưng nỗi tuyệt vọng của con người rất ít khi liên quan đến kế hoạch kinh doanh hay bản cân đối thu chi. Gần đây, người ta hay nói về hiện sinh một cách khá là nôm na, rằng chúng ta không cần quan tâm đến cái gì khác ngoài chính cái khoảnh khắc mà ta đang sống. Triết lý vậy nghe cũng hay, cũng phảng phất chất thiền, nhưng mà sai. Nỗi tuyệt vọng của con người có nguồn gốc từ quá khứ và tương lai, nó là sự nuối tiếc về quá khứ và sự sợ hãi về tương lai. Sống hoàn toàn trong hiện tại sẽ làm dịu đi nỗi tuyệt vọng trong chốc lát, nhưng nỗi tuyệt vọng sẽ như cái bu mơ răng bay lộn ngược lại đập vào mặt ta với sức tàn phá gấp hai. Con người cần có cái gì đó cao cả mà bám vào, để đu người lên để có thể nhìn về quá khứ và tương lai mà không nuối tiếc, không sợ hãi.

Bạn có thể tìm thấy cả sự tuyệt vọng, cả sự cao cả của tâm hồn con người trong những trang sách. Vì thế mà bạn muốn có một tiệm sách cũ không quá xa nơi bạn sống.

Ngô Bảo Châu

(Bài đã đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần và Học thế nào)

Written by Ngo Bao Chau

02/02/2014 at 22:33

Posted in Sách, Độc thoại

Bộ sưu tập của Tira

senh 

 Hôm trước, tôi đến thăm phòng làm việc của Nora và được chị tặng một quyển sách. Chị Nora Taylor là giáo sư của SAIC, Viện nghệ thuật Chicago. Chuyên môn của chị là nghệ thuật Đông nam Á. Qua trò chuyện với Nora, tôi phát hiện thấy có tới bốn thứ tiếng mà chị nói thạo hơn tôi, đó là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt và ngôn ngữ nghệ thuật.

Quyển sách mà Nora tặng tôi có tên là “Những tác phẩm quan trọng và vô giá của hội hoạ việt nam và hiện đại” (tôi hơi thắc mắc tại sao có tới hai chữ “và”) của Phan Cẩm Thượng và Nguyễn Anh Tuấn trên nền tư liệu là bộ sưu tầm tranh của Tira Vanichtheeranont. Ông Tira là một nhà sưu tầm người Thái, trước đây ông đã làm việc trong ngành viễn thông ở Việt nam nhiều năm, và chỉ bắt đầu sưu tầm khi đã về hưu. Chỉ trong vài năm với một số tiền không phải rất lớn, ông đã có một bộ sưu tập với hàng ngàn tác phẩm. Thay vì sưu tầm những bức tranh sơn dầu khổ lớn, Tira chủ yếu lưu giữ những bức ký hoạ bằng bút than, bút sắt, tranh vẽ mầu nước hoặc bột màu của thời kỳ 45-75.

Đặc trưng của hội hoạ thời kỳ này cùng với sự thiếu thốn nguyên liệu, là thái độ nghiêm túc, cẩn trọng của người nghệ sỹ. Những bức ký hoạ của Mai Văn Nam không chỉ đơn thuần là tư liệu cho những tác phẩm hoàn chỉnh hơn, mà là những bức tranh được bố cục rất tinh tế. Nghe thì sáo, những quả thực là tôi cảm thấy yêu đất nước mình hơn qua những bức ký hoạ của Mai Văn Nam ghi lại vẻ đẹp của bản làng Tây bắc, của phong cảnh đồng bằng Bắc bộ, của cuộc sống tươi vui trong phiên chợ Hàng mã vào những ngày trước tết Trung thu.

Mai Văn Nam, Mai Văn Hiến, Phan Thông… là thế hệ hoạ sỹ được đào tạo vào những năm cuối của Trường mỹ thuật đông dương, cùng thời với Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm. Trong tranh của các ông, dường như không có cái chất thần bút của Nghiêm Liên Phái Sáng, nhưng ta thấy rõ sự điêu luyện, sự tinh tế và cả sự trong sáng, ngây thơ và đáng yêu. Đây là thế hệ những người hoạ sĩ tin vào một nền nghệ thuật mới mà chính họ là những người kiến tạo. Những tác phẩm phục vụ mục đích tuyên truyền như bộ tranh về cải cách ruộng đất của Phan Thông, hay truyện tranh về Sềnh Hang của Mai Văn Nam đánh dấu cố gắng của người nghệ sĩ để hoà mình vào dòng chảy của cách mạng. Phần lời trong truyện tranh Sềnh Hang được viết nắn nót bằng bút sắt, có đoạn cuối: “Được nhân dân và chính quyền địa phương giúp đỡ ông đem gia đình xuống làm nhà gần đồng bào Thổ. Ông được cấp chăn, vải may quần áo, gạo, trâu và dụng cụ để tăng gia sản xuất. Từ đó gia đình ông mới thoát khỏi nạn trần truồng và đói rét.”

Chúng ta dường như thấy trong nét bút của Mai Văn Nam cả sự khiêm nhường, cả sự  nghiêm cẩn và tinh tế, cả một cài gì rất ngây thơ, cái báo trước cho sự thất vọng, cho sự sụp đổ của niềm tin sắp đến. Đối với chúng ta, nó là vô giá, nó khắc hoạ giá trị tinh thần của một thời đã qua, một thời có thể cực khổ về vật chất, tăm tối về tinh thần, nhưng đó là thời mà chúng ta lớn lên, đó là một phần của mỗi chúng ta.

Gần đây người ta hay nói về tính sính ngoại, sự vong bản của thế hệ trẻ. Tôi thấy rằng trước khi kết tội thế hệ trẻ vong bản, sính ngoại, coi thường những giá trị tinh thần của cha anh, cần suy nghĩ lại xem bản thân chúng ta đã làm được gì để giữ gìn những giá trị tinh thần đã tồn tại và tạo ra những giá trị tinh thần mới. Xem ra cũng có nhiều cách rất khác nhau để làm được việc ấy: hoặc đi sưu tầm tranh vẽ như ông kỹ sư người Thái có tên Tira Vanichtheeranont, hoặc đi xin kinh phí từ ngân sách để xây bảo tàng Hà Nội với kiến trúc hiện đại bề thế, nhưng ít hiện vật. Hoặc triệt để hơn nữa thì đi đóng cửa zone 9 để giúp thế hệ trẻ đoạn tuyệt với cái phong cách sống vong bản và sính ngoại.

Ngô Bảo Châu

(Bài đã đăng trên Forbes Vietnam số tháng 2/2014)

Written by Ngo Bao Chau

18/01/2014 at 13:41

Posted in Độc thoại

Yêu ngôn

(cho hương hồn cụ Nguyễn)

Tôi còn nhớ như in cái cảm giác sung sướng lúc tự mò được cái chứng minh đầu tiên trong khi cùng bác Hứa Thuần Phỏng đi theo nẻo đường “Định lý hình học và các phương pháp chứng minh”. Tôi không phải là một trường hợp cá biệt. Học hình phẳng là một dịp tuyệt vời cho trẻ nhỏ có dịp làm quen và tự mầy mò với những chứng minh logic chặt chẽ từ đầu đến cuối.

Tác phẩm Cơ sở của Euclid là một bộ phận của cái gọi là phép mầu Hy lạp. Ở xứ này, lần đầu tiên con người có ý thức về khả năng chứng minh dựa trên có sở của logic hình thức, và do đó không thể bắt bẻ được. Nó là một bước tiến rất xa so với các nền văn minh cùng thời nơi toán học có thể rất phát triển nhưng chỉ phát triển như một công cụ đo đạc trực tiếp phục vụ cuộc sống hàng ngày. Thực ra, định lý Pythagore đã được chứng minh ở Ấn độ từ 600 năm, ở Trung Quốc từ 500 năm trước công nguyên, tức là 200 năm trước khi bộ sách Cơ sở ra đời.  Những khám phá thú vị này không làm lung lay lý thuyết về phép mầu nhiệm Hy lạp. Trong khi Á đông đặt trọng tâm vào Nghĩa và coi thường Ngữ (pháp), ở Hy lạp người ta đã có ý thức về sức mạnh của ngôn ngữ.

Mô tả vẫn là phương pháp yêu thích của con người để nhận thức thế giới. Ngôn ngữ cần được cải thiện liên tục để giúp ta nhận thức sự đa dạng và sự tinh tế của vạn vật. Để có câu trả lời thỏa đáng cho một câu hỏi, cần thiết lập một ngôn ngữ phù hợp để xây con đường đi từ cái đã biết đến cái chưa biết. Trong phạm vi một ngôn ngữ thích hợp, câu hỏi tưởng hóc búa trở nên hiển nhiên.

Sự ra đời của một ngôn ngữ tự nó lại lẩy ra nhiều câu hỏi nội tại đòi được trả lời.  Trong số đó, những câu hỏi hóc búa nhất đến lượt nó, lại kêu gọi sự ra đời của một ngôn ngữ mới. Và như thế, ngôn ngữ sau được xây dựng trên nền tảng của ngôn ngữ trước và tạo nên sự phát triển không ngừng của trí tuệ con người. Dù bị hạn chế nhiều bởi tính cơ khí của máy móc, sự chồng chất này cũng được thể hiện rất rõ trong khoa học máy tính. Chính tư duy hình thức đã cho người phương tây cái can đảm để đứng lên vai của người khổng lồ.

Toán học thế kỷ hai mươi đã mục kích sự chuyển mình vĩ đại của hình học đại số. Toàn bộ cơ sở của hình học đại số đã được xây dựng lại trên cơ sở của lý thuyết phạm trù thay cho lý thuyết tập hợp. Sự chuyển mình này xuất phát hầu như hoàn toàn từ cố gắng của một người : Alexandre Grothendieck. Ông không ngần ngại viết vài ngàn trang chỉ với mục đích xây dựng lại một ngôn ngữ đủ giàu có, đủ trong sáng, để sao cho mỗi câu hỏi, mỗi vấn đề  có thể phát biểu tuân theo ngữ pháp của nó, chứ không theo một thứ ngữ pháp vay mượn.

Quay lại với hình học phẳng. Để giải một bài hình học phẳng, trước hết bạn phải vẽ hình. Vẽ hình là cách bạn mở cửa đón bài toán đi vào thế giới trực quan của riêng bạn. Trực quan hình học của bạn được hình thành qua quan sát cuộc sống hàng ngày. Phóng tầm măt theo hai vỉa hè phố Trần Hưng Đạo song hành mà hội tụ về một điểm nào đó ở chân trời đê sông Hồng là một cách chuẩn bị cho hình học xạ ảnh. Trực quan hình học cũng được hình thành từ lời giải cho những bài toán bạn đã làm trước đó. Nếu không có trực quan hình học, bạn không có cách nào tìm ra những định đề trung gian khéo léo nối từ giả thiết đến kết luận của bài toán.

Nhưng nếu chưa viết ra cái chứng minh của bạn dưới một ngôn ngữ tường minh và hình thức, bạn vẫn chưa hoàn thành bài tập mà ông Euclid giao cho. Viết ra chứng minh là một thay đổi cơ bản về chất : cái trực quan rất riêng của bạn đã trở thành một khách thể tồn tại độc lập với bạn. Về mặt nguyên tắc, người khác có thể đọc lại và hiểu, không cần phải mò mẫm lại con đường của bạn đi qua, không cần phải trải nghiệm lại những khó nhọc mà bạn đã gặp. Con đường gắn bó với bao buồn vui của ta, đối với người khác chỉ là một phương tiện để đi từ môt điểm A đến một điểm B. Nhưng đấy là cái giá phải trả để ta có quyền hy vọng rằng người khác sẽ đi xa hơn. Deligne viết thế này về một chứng minh lý tưởng mà không mấy khi, không mấy ai đạt tới : ”nothing should remain visible of the efforts it cost to reach an understanding.”

(Bài này đăng đã lâu trên blog Thích học toán cũ, nhớ đến nó vì có câu chuyện với Cơ sở Euclid)

 

Written by Ngo Bao Chau

10/01/2014 at 04:44

Posted in Độc thoại